Nền tảng chiến lược trong kỷ nguyên mới
Hiện nay, chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong lĩnh vực hạ tầng chất lượng, việc xây dựng CSDL số quốc gia về TCĐLCL đóng vai trò then chốt, giúp chuyển đổi phương thức quản lý từ thủ công, phân tán sang kết nối, tập trung và đồng bộ.
Ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban TCĐLCL quốc gia, khẳng định: “CSDL quốc gia số được xây dựng nhằm đảm bảo tính thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Đây là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam chủ động hơn trong hội nhập quốc tế, đặc biệt là khả năng đáp ứng các yêu cầu khắt khe về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) tại các thị trường khó tính.”
Hành lang pháp lý kiến tạo sự phát triển
Việc hiện thực hóa hệ thống dữ liệu này được củng cố mạnh mẽ bởi những thay đổi quan trọng trong hệ thống pháp luật vừa qua. Cụ thể, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Luật số 70/2025/QH15) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Luật số 78/2025/QH15) đã tạo ra khung pháp lý hiện đại, sát sườn với thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Đặc biệt, Nghị định 22/2026/NĐ-CP đã định danh rõ rệt: CSDL quốc gia về TCĐLCL là nền tảng số thống nhất, tích hợp mọi dữ liệu liên quan để phục vụ quản lý nhà nước và cung cấp thông tin hỗ trợ người dân, doanh nghiệp. Sự ra đời của các văn bản này cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc tháo gỡ các “điểm nghẽn” thông tin, tạo môi trường kinh doanh minh bạch và thuận lợi.
Cấu trúc các trụ cột dữ liệu số
Để đảm bảo tính vận hành hiệu quả, CSDL quốc gia về TCĐLCL được thiết kế khoa học với 7 nhóm dữ liệu chính, bao gồm:
Hệ thống này được yêu cầu vận hành liên tục, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin tuyệt đối. Đồng thời, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu với CSDL tổng hợp quốc gia và các bộ ngành chuyên ngành sẽ tạo ra một hệ sinh thái dữ liệu mở, giúp tra cứu và khai thác thông tin nhanh chóng.
Đồng hành cùng doanh nghiệp “vươn ra biển lớn”
Góc độ lợi ích kinh tế, ông Nguyễn Nam Hải nhấn mạnh rằng việc chuẩn hóa và số hóa dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các quy chuẩn, từ đó cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao năng suất. Thay vì phải tiêu tốn nhiều thời gian và nguồn lực để tìm kiếm thông tin, các đơn vị giờ đây có thể sử dụng nền tảng số để cập nhật các thay đổi mới nhất về chất lượng hàng hóa.
Các chương trình hỗ trợ đổi mới công nghệ cũng sẽ dựa trên dữ liệu thực tế từ hệ thống này để thiết kế những giải pháp “đo ni đóng giày” cho từng lĩnh vực, sát với nhu cầu thực tế của thị trường.
Các chuyên gia nhận định, khi thông tin được minh bạch hóa thông qua nền tảng số, niềm tin của người tiêu dùng và đối tác quốc tế vào sản phẩm Việt Nam sẽ được củng cố. Đây chính là “chìa khóa” để doanh nghiệp nội địa bền bỉ phát triển trong chuỗi cung ứng toàn cầu, biến các thách thức về hàng rào kỹ thuật thành lợi thế cạnh tranh bằng chính chất lượng và sự minh bạch.
Tin bài: tcvn.gov.vn